80 năm nhớ về Tết Độc lập đầu tiên

Cũng những ngày Xuân này cách đây 80 năm, Tết Bính Tuất 1946 đã là Tết độc lập đầu tiên sau bao nhiêu năm đất nước bị đô hộ. Như nhìn nhận của nhà báo lão thành Hà Đăng: “Mùa xuân ấy là mùa xuân hội tụ khí thiêng sông núi của những sự kiện lịch sử vĩ đại vừa trải qua: Cách mạng Tháng Tám, Tuyên ngôn Ðộc lập và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nền dân chủ mới”.

Tết Bính Tuất 1946, theo nhìn nhận của hầu hết các sử gia, nhà nghiên cứu, là Tết lòng người hoan hỉ nhất, cả nước nô nức đón Tết Ðộc lập đầu tiên. Theo hồi ức của ông Tạ Quang Chiến, nguyên tổng cục trưởng Tổng cục TDTT, người cận vệ được Bác Hồ đặt tên, đây là tết Độc lập đầu tiên sau hơn 80 năm nô lệ, nên đồng bào cả nước rất vui mừng phấn khởi. Ở Thủ đô Hà Nội, nhân dân tổ chức Tết mừng cách mạng thành công, nên đường phố nhộn nhịp, đông đúc khác thường. Mọi nhà đều có cành đào trên bàn thờ Tổ quốc cùng khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”. “Cờ đỏ sao vàng, ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo ở nơi trang trọng nhất. Có gia đình còn bày bàn thờ ra ngoài cửa để đón Tết Ðộc lập. Ðêm 30 Tết trời se lạnh, cả Hà Nội như không ngủ, mọi người đều thức để cùng chờ đón mùa xuân mới”– ông Tạ Quang Chiến nhớ lại.

cho-hoa-cong-cheo-hang-luoc.png

Cái sự hoan hỉ, nô nức, háo hức ấy dường như đã được Tố Hữu- nhà thơ cách mạng, nhà thơ của nhân dân- khắc hoạ trọn vẹn trong bài thơ “Xuân nhân loại”. “Ðây một mùa xuân tới tới gần/ Ðây mùa bất tuyệt của muôn xuân”. Lời thơ còn da diết hơn: “Lâu rồi khao khát lắm, xuân ơi/ Nhân loại vươn lên ánh mặt trời”. Với ông, Xuân Bính Tuất 1946 thực sự mang tầm vóc Xuân nhân loại, là “mùa xuân bất tuyệt của muôn xuân” khi dân tộc Việt Nam sau bao nhiêu năm bị đô hộ, áp bức, đã bước vào kỷ nguyên mới của độc lập, tự do.

Còn trong nhìn nhận của nhà báo lão thành Hà Đăng: “Mùa xuân ấy là biểu thị sáng ngời ý chí của toàn dân bảo vệ nền độc lập và thống nhất vừa giành được. Bọn thực dân vừa bị đánh đổ đã núp bóng quân đồng minh hòng trở lại thiết lập chế độ cai trị cũ. Chiến tranh lan rộng khắp Nam Bộ và nhiều tỉnh khác ở miền Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Từ Bắc Bộ, Bắc và Trung Trung Bộ, rầm rập bước chân của những đoàn quân Nam tiến. Mùa xuân ấy cả nước hướng về thủ đô Hà Nội, hướng về Bác Hồ kính yêu chờ đón một mệnh lệnh chiến đấu, một vần thơ, một lời chúc Tết”.

Thoả lòng mong đợi của đồng bào, theo ông Tạ Quang Chiến, từ nhà số 8 phố Lê Thái Tổ, nơi ở của Bác Hồ lúc bấy giờ, Người bí mật tản bộ đến viếng Ðền Ngọc Sơn, hòa vào dòng người nô nức đi lễ, hái lộc xuân ở nơi thiêng liêng – trái tim Thủ đô. Sau đó, Người lên xe, bất ngờ thăm một số gia đình lao động nghèo ở phố Khâm Thiên và Tạ Hiện. Các gia đình đều rất ngạc nhiên, phấn khởi và cảm động đến rơi nước mắt khi được gặp vị Chủ tịch kính yêu. Chuyện kể rằng, chính trong chuyến thăm đêm Ba mươi Tết của mùa Xuân độc lập đầu tiên đó, Bác Hồ đã chứng kiến cảnh gia đình một người đạp xích lô “Tết mà không có Tết”, Bác đã xúc động lấy khăn lau nước mắt, lặng lẽ bước ra khỏi nhà, bảo đồng chí thư ký ghi lại địa chỉ để hôm sau báo cáo cho đồng chí Chủ tịch Hà Nội biết.

“Cũng dịp đầu xuân này, Bác Hồ nhắc chúng tôi chọn một số nhà trí thức tiêu biểu để Người đến thăm. Bác bảo, tốt nhất là đến vào buổi tối, khi mọi người trong gia đình sum họp đầy đủ ở nhà. Nơi Bác đến đầu tiên là gia đình bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội ở phố Hàng Bông – Thợ Nhuộm, nơi có bệnh viện tư của bác sĩ đã nổi tiếng nhiều năm. Người vào nhà đúng lúc cả gia đình bác sĩ Trần Duy Hưng đang quây quần đón xuân. Mọi người đều rưng rưng nước mắt trước giây phút hạnh phúc. Gia đình thứ hai được Bác Hồ đến thăm là nhà giáo sư Nguyễn Xiển, Chủ tịch Ủy ban hành chính Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Nha Khí tượng Việt Nam. Gia đình thứ ba Bác Hồ đến thăm vào dịp Tết năm ấy là nhà giáo sư Tôn Thất Tùng, ở phố Hàng Bông”– người cận vệ của Bác Hồ kể lại.

Cũng theo ông Tạ Quang Chiến, sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về nhà số 8, phố Vua Lê để hóa trang thành một cụ già đi đón giao thừa.

Cũng Tết Bính Tuất đó, Bác Hồ đã có ba bài thơ xuân chúc Tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đặc biệt, Người gửi riêng cho các chiến sĩ một lá thư. Trong thư, Bác viết: “Hôm nay, ngày mồng Một tháng Giêng năm 1946 là ngày Tết đầu năm, tôi xin thay mặt Chính phủ chúc các bậc kỳ lão, các anh chị em thanh niên và thiếu niên, các trẻ em trai và gái mọi sự tốt lành… Tôi lại xin thay mặt Chính phủ và đồng bào gửi tình nhiệt liệt và lời chào sốt sắng cho các chiến sĩ yêu quý của ta, đang gan góc tranh đấu ở các mặt trận, để giữ gìn nền tự do độc lập cho nước nhà… Tôi tin chắc rằng sang năm mới, đồng bào ta sẽ có lòng tin mới, quyết tâm mới, lực lượng mới, đoàn kết mới, để cùng nhau gánh vác công việc mới và tranh cuộc thành công mới”.

Theo lời kể của Trung tướng Phạm Hồng Cư, lúc ấy, Nam Bộ và Nam Trung Bộ đã kháng chiến được 4 tháng, nên Bác dành nhiều tình cảm cho các chiến sĩ ngoài mặt trận. “Tôi còn nhớ những câu thơ của Bác gửi các chiến sĩ: “Bao giờ kháng chiến thành công/ Chúng ta cùng uống một chung rượu đào/ Tết này ta tạm xa nhau/ Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy. Tôi đọc xong thư Bác, toàn trung đội hát vang: “Tiếng súng vang sông núi miền Nam…/ Ta muốn băng mình tới phương Nam giết hết quân hung tàn…”. Tết Độc lập đầu tiên đến trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài hết sức phức tạp, tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng lòng người Việt Nam thì vô cùng phấn khởi, vì được thở hít không khí tự do, bừng bừng khí thế cách mạng, sẵn sàng theo Đảng, theo Bác Hồ chiến đấu đến cùng để bảo vệ nền độc lập mới giành được”… – Trung tướng Phạm Hồng Cư bồi hồi nhớ lại.

Nguồn: https://congluan.vn/80-nam-nho-ve-tet-doc-lap-dau-tien-10329179.html

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *