(Dân trí) – Trước khi đến tay người bệnh, mỗi liều thuốc phải trải qua một hành trình nhiều lớp kiểm soát, nơi từng thao tác đều được tính toán để đảm bảo

Bà P.T.T., nhập viện với những cơn đau kéo dài ở vùng nách và cổ. Những khối hạch nổi rõ, gây đau nhức và khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng đáng kể.
Trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, ThS.BS Nguyễn Duy Anh, chuyên khoa ung bướu cho biết, vài năm trước bệnh nhân từng được chẩn đoán ung thư phổi, đã trải qua phẫu thuật cắt thùy phổi và hóa trị.

Bệnh có giai đoạn ổn định. Khi các tổn thương hạch xuất hiện trở lại, nghi ngờ ban đầu từng nghiêng nhiều về khả năng ung thư phổi tái phát.
Tuy nhiên, sau khi làm sinh thiết, kiểm tra mô bệnh học và đánh giá lại toàn diện, các bác sĩ xác định đây không phải phần kéo dài của bệnh cũ mà là một bệnh lý mới, ung thư vú.
Trước khi chuyển tới cơ sở điều trị hiện tại, bệnh nhân đã trải qua nhiều phác đồ hóa chất ở tuyến trước nhưng đã có tình trạng kháng các phương pháp điều trị này.
Khi tiếp nhận ca bệnh, ê kíp điều trị tiếp tục làm lại nhiều xét nghiệm, trong đó có các xét nghiệm liên quan đến sinh học phân tử, đột biến gen và khả năng đáp ứng miễn dịch của khối u.
Kết quả cho thấy người bệnh có những yếu tố phù hợp để đưa thuốc miễn dịch vào phác đồ.
Loại thuốc miễn dịch được sử dụng cho bệnh nhân là Pembroria, thuốc có hoạt chất pembrolizumab do Nga sản xuất. Đây là thuốc đã nhận được nhiều sự quan tâm thời gian qua vì chi phí thấp hơn nhiều so với thuốc cùng hoạt chất do Mỹ sản xuất.
Phác đồ được đặt ra theo hướng điều trị tân bổ trợ. Mục tiêu không dừng ở việc làm nhỏ khối u và hạch, mà còn nhằm tạo điều kiện để sau đó có thể phối hợp thêm phẫu thuật hoặc xạ trị, hướng tới khả năng kiểm soát bệnh lâu dài hơn.
“Trong nhóm bệnh lý ung thư vú, dù xét nghiệm cho thấy có sự phù hợp với thuốc miễn dịch, người bệnh vẫn cần phối hợp thêm hóa chất thì mới có hiệu quả để khống chế bệnh tốt hơn”, BS Duy Anh nói.
Hôm nay, bà T. bước vào đợt truyền thuốc miễn dịch lần thứ 3.


Tại kho thuốc, Pembroria được bảo quản trong tủ lạnh chuyên dụng ở 5,3 độ C, mức nằm trong ngưỡng bảo quản yêu cầu (2-8 độ C).
Để được pha chế và truyền cho người bệnh, lọ thuốc này phải đi qua hàng loạt khâu kiểm soát chặt chẽ.

Với đợt điều trị này, bệnh nhân sẽ sử dụng 2 lọ Pembroria pha với 250ml dịch truyền để có thành phẩm cuối cùng.

Sau khi thuốc được bàn giao cho khoa điều trị, nhân viên y tế sẽ mang thuốc xuống phòng bệnh, thông tin cho bệnh nhân và gia đình biết rõ hôm nay dùng thuốc gì, số lượng ra sao. Chỉ sau khi hoàn tất bước này, thuốc mới được chuyển tiếp sang bộ phận dược để pha chế.

Đây là một quy trình đòi hỏi nghiêm ngặt về kiểm soát nhiễm khuẩn. Do đó, nhân viên phòng pha chế phải đảm bảo các bước sát khuẩn, sử dụng trang phục chuyên dụng.

Từ khu tiếp nhận, thuốc được đưa vào một phòng đệm trước khi vào phòng pha. Thuốc được đựng trong hộp và sát khuẩn trước khi đưa vào khu vực vô khuẩn cho nhân viên pha chế.

Thông qua hộc 2 chiều, hộp đựng thuốc được đưa vào bên trong.

Toàn bộ quy trình bàn giao thuốc vào khu vực pha chế diễn ra theo một chiều, giúp hạn chế tối đa nguy cơ nhiễm bẩn từ môi trường bên ngoài vào khu pha chế.


Quá trình pha chế được thực hiện trong tủ hút vô khuẩn, nơi được xem là “lớp bảo vệ” quan trọng nhất để kiểm soát nhiễm khuẩn. Hệ thống này tạo ra luồng khí một chiều, liên tục lọc sạch vi sinh vật và bụi mịn, đồng thời ngăn không cho tác nhân từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào dung dịch thuốc.

Từng bước kiểm đếm, đối chiếu tên thuốc, liều lượng, người bệnh đều được thực hiện cẩn trọng. Khi thuốc đã được pha xong, sản phẩm cuối cùng tiếp tục được dán nhãn tên bệnh nhân rồi chuyển ngược ra ngoài qua khoang bàn giao.

Một cửa kính lớn giúp người bệnh hoặc người nhà, nếu muốn, có thể quan sát quá trình pha thuốc từ phía ngoài. Cách làm này vừa giúp công khai, minh bạch, vừa tạo sự yên tâm cho gia đình khi chứng kiến tận mắt thuốc của mình được tiếp nhận, pha chế và bàn giao ra sao.

Theo BS Duy Anh, với bệnh nhân T., phác đồ hiện tại được triển khai theo chu kỳ 3 tuần. Trong tuần đầu tiên, người bệnh truyền cả hóa chất và thuốc miễn dịch trong cùng một buổi.Hai tuần tiếp theo, người bệnh tiếp tục truyền thuốc theo lịch xen kẽ giữa hóa chất và thuốc miễn dịch. Hết 3 tuần, chu kỳ điều trị được lặp lại.
Đến nay, bệnh nhân đã trải qua 3 lần truyền thuốc miễn dịch và 7 lần hóa trị. Sau đợt điều trị này, ê kíp sẽ chụp phim để đánh giá lại toàn bộ mức độ đáp ứng.


Nếu kết quả tốt, các bác sĩ có thể tính đến việc phối hợp thêm những phương án khác như phẫu thuật hoặc xạ trị, nhằm tiến gần hơn đến mục tiêu điều trị triệt căn.
Điều khiến người điều trị có thêm hy vọng là những thay đổi ban đầu ở bệnh nhân tương đối khả quan.
“Theo ghi nhận lâm sàng, người bệnh cho biết những hạch vùng cổ trước đây tự sờ thấy rõ nay đã giảm, cảm giác đau tức vùng nách cũng nhẹ hơn. Trên siêu âm, kích thước hạch ghi nhận giảm khoảng 40% so với thời điểm đầu.
Ở giai đoạn điều trị chưa dài, mức cải thiện đó được xem là một tín hiệu tích cực. Dù vậy, chúng tôi vẫn giữ sự thận trọng cần thiết”, BS Duy Anh nói.

Một trong những lý do khiến thuốc của Nga được chú ý là chi phí. Thuốc cùng hoạt chất do Mỹ sản xuất có giá khoảng 36 triệu đồng mỗi lọ (giá đã giảm sau khi loại thuốc của Nga xuất hiện), mỗi lần truyền thường cần 2 lọ. Với chu kỳ lặp lại khoảng 3 tuần một lần, đây là rào cản rất lớn với nhiều gia đình.
Trong khi đó, Pembroria có giá khoảng 18 triệu đồng mỗi lọ, tức khoảng 36 triệu đồng cho một chu kỳ với liều thông dụng. Chi phí này vẫn rất cao, nhưng đã mở ra thêm một cánh cửa cho những bệnh nhân trước đây khó tiếp cận liệu pháp miễn dịch vì gánh nặng tài chính.
Loại thuốc này đã được chỉ định cho nhiều nhóm bệnh khác nhau như ung thư phổi, ung thư đại trực tràng, ung thư đường tiêu hóa, ung thư cổ tử cung, ung thư vú và một số nhóm bệnh ác tính khác.
Tuy nhiên, BS Duy Anh nhấn mạnh, không phải cứ mắc ung thư là có thể dùng, càng không phải thuốc miễn dịch có thể thay thế hoàn toàn hóa trị hay các biện pháp điều trị khác. Việc chỉ định phải dựa trên giai đoạn bệnh, đặc điểm mô bệnh học, xét nghiệm liên quan và mục tiêu điều trị cụ thể ở từng người bệnh.
Người bệnh cũng không nên hiểu rằng đây là “thuốc đặc trị” có thể chữa dứt điểm ung thư trong mọi trường hợp.
Ở những bệnh nhân giai đoạn tiến xa, thuốc có thể phải duy trì định kỳ chừng nào còn hiệu quả. Có người đáp ứng tốt trong thời gian dài, nhưng cũng có người đáp ứng ngắn hơn. Khi thuốc không còn hiệu quả, bác sĩ phải tính đến phương án điều trị tiếp theo, có thể là hóa chất, thuốc trúng đích hoặc các lựa chọn khác tùy trường hợp.
Theo BS Duy Anh, Pembroria mới được đưa vào sử dụng ở các bệnh viện chuyên khoa ung bướu tại Việt Nam khoảng hai tháng, tính từ thời điểm thuốc bắt đầu hiện diện trong thực hành lâm sàng.
Vì vậy, hiện chưa có nghiên cứu tổng kết lớn trong nước để khẳng định đầy đủ hiệu quả thực tế trên quần thể bệnh nhân Việt Nam. Dữ liệu hiện nay chủ yếu vẫn dựa vào các nghiên cứu quốc tế, trong đó tập trung nhiều ở Nga, cùng với những quan sát bước đầu từ thực hành điều trị.
Về bản chất, đây là thuốc miễn dịch trong điều trị ung thư. Tế bào ung thư giống như có một “lớp áo ngụy trang”, khiến tế bào miễn dịch trong cơ thể khó nhận ra. Thuốc miễn dịch sẽ góp phần làm mất đi lớp ngụy trang đó, từ đó tăng khả năng nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư.
Nguồn: https://dantri.com.vn/suc-khoe/can-canh-dieu-tri-thuoc-ung-thu-nga-tai-viet-nam-moi-lo-gan-20-trieu-dong-20260327231735372.htm