Giáo sư Trần Thị Thanh Vân: Chọn trở về và đi đến cùng với khoa học

Từ những câu hỏi rất sớm về cầu vồng, về sự tương tác giữa ánh sáng và vật chất, nữ sinh Trần Thị Thanh Vân (quê ở Gia Lai) đã đi một hành trình hơn 20 năm với khoa học. Điều đáng nói hành trình ấy đã không đứt đoạn, dù có những thời điểm chị buộc phải rẽ sang hướng khó hơn.

 

GS.TS. Trần Thị Thanh Vân hiện là Trưởng Khoa KH&CN Vật liệu, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh). Cuối năm 2025, ở tuổi 45, chị trở thành nữ giáo sư trẻ nhất được Hội đồng giáo sư Nhà nước công nhận và là nữ giáo sư trẻ nhất Việt Nam được công nhận trong lĩnh vực Vật lý.

Trò chuyện với chúng tôi, chị đi từ những dấu mốc cá nhân đến những vấn đề cốt lõi của môi trường khoa học Việt Nam – nơi lựa chọn cá nhân không thể tách rời điều kiện hệ thống.

nu-giao-su-tre-nhat-viet-nam-nam-2025-tran-thi-thanh-van.jpg
GS. TS. Trần Thị Thanh Vân: “Danh xưng, với tôi, không phải là điểm dừng, mà là một chuẩn mực cao hơn để “tự soi” lại mỗi bước đi trong chặng đường sắp tới”.

Từ tò mò ban đầu đến nền móng khoa học

* Trở thành nữ giáo sư trẻ nhất Việt Nam năm 2025, chị đón nhận dấu mốc này như thế nào – một sự ghi nhận hay là áp lực?

– Đây là niềm vinh dự đối với cá nhân và gia đình tôi, là sự ghi nhận cho những nỗ lực trong hơn 20 năm qua. Đồng thời, đó cũng là động lực và trách nhiệm để tôi tiếp tục làm tốt hơn công việc của mình. Tôi mong có cơ hội đóng góp cho quê hương nơi tôi sinh ra và lớn lên.

Danh xưng, với tôi, không phải là điểm dừng, mà là một chuẩn mực cao hơn để “tự soi” lại mỗi bước đi trong chặng đường sắp tới.

* Đâu là bước ngoặt quan trọng nhất trong hành trình ấy của chị?

– Đó là khi tôi chọn lựa trở thành sinh viên của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Ở đó, niềm đam mê khoa học của tôi được nuôi dưỡng, niềm tin vào bản thân và mục tiêu dần được vun đắp.

Không chỉ là kiến thức, tôi được rèn về cách làm việc, cách nghĩ và cả chuẩn mực nghề nghiệp – những thứ quyết định một người có đi được đường dài hay không. Tôi vô cùng biết ơn các thầy, cô đã tận tâm dìu dắt và truyền cảm hứng.

* Có khi nào chị muốn rẽ hướng?

– Hơn 20 năm theo đuổi con đường giảng dạy và nghiên cứu khoa học, khó khăn là điều không tránh khỏi. Nhưng ở mỗi thời điểm, tôi chọn cách đi khác nhau để vượt qua và tiếp tục theo đuổi mục tiêu.

Chẳng hạn, khoảng năm 2005, việc làm nghiên cứu thực nghiệm trong nước rất khó khăn, hạn chế do thiếu trang thiết bị và việc tiếp cận với các tài liệu, bài báo, sách online rất hạn chế.

Chính trong lúc đó, tôi lựa chọn đi học nghiên cứu sinh ở nước ngoài để tiếp cận môi trường học thuật tiên tiến và thử thách bản thân.

Thật may mắn, sau khi hoàn thành chương trình tiến sĩ, tôi cũng đã tích lũy được một ít kinh nghiệm làm nghiên cứu cũng như tạo được mạng lưới hợp tác quốc tế – những yếu tố mang tính nền tảng cho các bước đi sau này.

2-3469.jpg
Nữ giáo sư (bìa trái) hướng dẫn sinh viên làm nghiên cứu. Ảnh: NVCC

Lựa chọn trở về

* Chị từng từ chối cơ hội làm việc tại Pháp để trở về Việt Nam. Có phải là một lựa chọn “ngược dòng”?

– Bây giờ nếu chọn lại, tôi vẫn sẽ trở về!

Hồi đó, trước khi trở về, tôi đã có sự chuẩn bị về định hướng nghiên cứu và hiểu tương đối rõ môi trường làm việc trong nước nên quá trình thích nghi không quá khó khăn. Điều đó giúp tôi chủ động triển khai công việc và từng bước phát huy năng lực của mình.

Khi có định hướng rõ ràng và chuẩn bị đủ, việc trở về không phải là một lựa chọn cảm tính, mà là một quyết định có tính toán. Và khi đó, “trở về” không chỉ là một lựa chọn mang tính cá nhân, mà còn là cơ hội để mình được đóng góp cho sự phát triển của giáo dục và khoa học nước nhà.

* Trong hơn 80 công trình nghiên cứu đã công bố, hướng nghiên cứu chị tâm đắc nhất là gì?

– Nước ta có trữ lượng đất hiếm rất lớn. Do đó, tôi tin rằng việc phát triển và làm chủ công nghệ chế biến sâu và sản xuất vật liệu này cho các ứng dụng trong lĩnh vực công nghệ cao sẽ giúp tăng giá trị gia tăng của đất hiếm lên rất nhiều lần, giảm phụ thuộc nhập khẩu và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước.

Do đó, một trong những hướng nghiên cứu chính mà tôi theo đuổi trong nhiều năm qua đó là vật liệu phát quang pha tạp đất hiếm vì tiềm năng ứng dụng rộng rãi của chúng trong các thiết bị chiếu sáng tiên tiến, màn hình hiển thị, cảm biến quang học, an ninh bảo mật và công nghệ năng lượng mới.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tối ưu hóa quy trình chế tạo vật liệu bằng thực nghiệm kết hợp với lý thuyết để tạo ra các vật liệu phát quang có tính chất nổi bật như cường độ phát quang cao, độ bền nhiệt và hóa học cao.

Đồng thời, chúng tôi có thể điều chỉnh linh hoạt vùng phát quang thông qua lựa chọn vật liệu nền và nồng độ/loại ion đất hiếm pha tạp.

Ngoài ra, cơ chế phát quang của các vật liệu này cũng đã được nghiên cứu một cách có hệ thống và chi tiết. Thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ thử nghiệm ứng dụng vật liệu này để phát triển các cảm biến quang học, mực in bảo mật, tem chống hàng giả…

GS.TS. Trần Thị Thanh Vân sinh năm 1980, quê ở phường Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định trước đây (nay là phường Tam Quan, tỉnh Gia Lai). Chị theo học tại Trường THPT Nguyễn Trân, sau đó học đại học chuyên ngành Vật lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

* Theo chị, “điểm nghẽn” lớn hơn của khoa học Việt Nam là thiếu người giỏi hay thiếu môi trường?

– Hiện có nhiều nhà khoa học được đào tạo ở nước ngoài, có kinh nghiệm nghiên cứu tốt về nước làm việc. Tuy nhiên, họ thường gặp hạn chế về cơ chế, chính sách và hệ sinh thái học thuật, khiến năng lực chưa được phát huy trọn vẹn.

Gần đây, với những điều chỉnh trong Luật KH&CN cùng các chủ trương thúc đẩy phát triển KH&CN, đổi mới sáng tạo, có thể kỳ vọng môi trường nghiên cứu từng bước được cải thiện.

Điều này sẽ tạo thêm cơ hội và điều kiện thuận lợi để các nhà khoa học phát huy năng lực, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước.

* Là nữ giáo sư trẻ trong lĩnh vực Vật lý, chị có từng gặp định kiến giới?

– Tôi không rõ ở lĩnh vực khác, nhưng trong Vật lý, Vật liệu, tôi cảm nhận rõ nữ giới ngày càng được quan tâm và khuyến khích nhiều hơn.

Những chương trình học bổng, mạng lưới hỗ trợ và các chính sách thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong khoa học đã giúp chúng tôi tự tin hơn trong một môi trường vốn được xem là nam giới chiếm ưu thế.

Thách thức lớn nhất đối với phụ nữ làm quản lý và nghiên cứu khoa học vẫn là việc cân bằng giữa công việc và gia đình. Ở mỗi giai đoạn của cuộc sống, tôi học cách điều chỉnh ưu tiên, dành thời gian nhiều hơn cho bên cần thiết và quan trọng là cảm thấy hài lòng với những lựa chọn của mình. Sự linh hoạt và kiên trì là điều giúp phụ nữ có thể đi đường dài với khoa học!

4-8791.jpg
GS.TS. Trần Thị Thanh Vân (thứ 4 từ trái sang) và đồng nghiệp thực hiện hoạt động kiểm định các chương trình đào tạo của Khoa theo chuẩn châu Âu (ASIIN). Ảnh: NVCC

* Điều gì đã giữ chị ở lại với con đường khoa học suốt hơn 20 năm?

– Tôi tin rằng mình có thể đóng góp cho giáo dục và sự phát triển của đất nước. Điều tôi luôn trăn trở là làm thế nào để xây dựng Khoa KH&CN Vật liệu (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) trở thành đơn vị đào tạo và nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực vật liệu tiên tiến, có vị thế trong khu vực.

Quan trọng hơn, các kết quả nghiên cứu phải được ứng dụng vào thực tiễn, đóng góp thiết thực cho phát triển KT-XH. Và trên hết, đó phải là nơi mỗi sinh viên tìm thấy niềm tin vào tri thức và chính mình.

* Trân trọng cảm ơn chị về cuộc trò chuyện!

Nguồn: https://baogialai.com.vn/giao-su-tran-thi-thanh-van-chon-tro-ve-va-di-den-cung-voi-khoa-hoc-post586028.html?gidzl=BfkZM7qzMnmjWQTPVIHT4Yg7f5TZ8r4MDuchLsKkL1GwtgfKQ7fVHJtHeG5hTmbBRu7z3pTdairoUpfN7G

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *